Giải bài tậpLớp 12

Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo của Vợ chồng A Phủ

Cùng Appbook.vn đọc bài Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo của Vợ chồng A Phủ trong chuyên mục Văn mẫu 12 chọn lọc.

Đề bài: Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo của Vợ chồng A Phủ

Bạn đang xem: Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo của Vợ chồng A Phủ

Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo của Vợ chồng A Phủ

I. Dàn ý Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo của Vợ chồng A Phủ

1. Mở bài:

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nội dung cần phân tích.

2. Thân bài:

a. Giá trị hiện thực:

* Bức tranh về cuộc sống bị áp bức, chà đạp tàn bạo của những người nông dân thấp cổ bé họng:

– Mị và A Phủ là những nạn nhân đáng thương của chế độ phong kiến miền núi, bị chà đạp, áp bức, tước đoạt tự do.
– Bi kịch của Mị:
+ Làm con dâu gán nợ, để tận hiếu với cha, đau đớn đến độ muốn chọn cái chết bằng nắm lá ngón, Mị cũng không thể toại nguyện.
+ Chai lì hết mọi xúc cảm và khao khát tự do, biến thành một con người lầm lũi như con rùa trong xó cửa.
+ Đời sống tinh thần Mị cũng phải gánh chịu nhiều giày vò phải sống với người mình không yêu là A Sử, bị đánh đập và đối xử tàn nhẫn, dã man.
+ Cuộc sống của Mị bị vây trong một căn buồng tối có duy nhất một ô cửa bé bằng bàn tay mà “lúc nào cũng thấy trăng trắng không biết là sương hay là nắng”.
=> Tuyệt vọng nghĩ rồi cô sẽ sống ở căn phòng tối tăm này cho đến chết thì thôi, chứ không còn một mối thoát nào khác.

– A Phủ:
+ Chỉ vì một cuộc ẩu đả với A Sử mà cuối cùng A Phủ bị phạt vạ oan ức một số tiền lớn.
+ Phải vĩnh viễn chôn chân tại nhà kẻ thống trị, làm lụng như trâu, như ngựa, sống cuộc đời của một nô lệ để trả món nợ bất công.
– Cha của Mị:
+ Một người nông dân nghèo, vay tiền nhà thống lý để cưới vợ, làm lụng quanh năm suốt tháng để trả nợ, năm nào cũng trả một nương ngô, ấy vậy mà đến khi Mị đã lớn, người vợ đã chết, món nợ ấy vẫn còn.
+ Phải trả giá cả bằng hạnh phúc của chính con cái mình.

* Tố cáo, vạch trần bộ mặt tàn bạo, gian ác của bọn cường quyền phong kiến miền núi:

– Mị:
+ Sự tàn bạo ấy thể hiện ở việc Mị bị bắt cướp về nhà thống lý cúng trình ma mà không được sự ưng thuận của cô.
+ Mị muốn đi chơi, A Sử trở về túm tóc Mị rồi trói đứng Mị ở cái cột trong căn buồng tối, rồi bỏ đi chơi tiếp.
+ Khi Mị tận tâm chăm sóc cho chồng, chỉ vì mệt quá nên thiếp đi, ấy thế mà A Sử đã thẳng chân đạp Mị ngã dúi dụi.

– A Phủ:
+ Vụ việc ẩu đả giữa A Sử và A Phủ đã trở thành cái cớ để chúng biến A Phủ thành một nô lệ trong nhàn quan, để có thể ra sức bóc lột.
+ Một đám xử kiện, thế nhưng người ta chỉ thấy khói thuốc phiện ngập tràn, cùng với một loạt những lời định tội, tính tiền hệt những con buồn, cuối cùng khép A Phủ vào món nợ 100 bạc trắng.
+ Trói đứng A Phủ giữa sân để anh tự sinh tự diệt chỉ vì anh làm mất 1 con bò.

b. Giá trị nhân đạo:
– Cảm thông, thương cảm cho số phận những người nông dân phải chịu đàn áp, bất công như Mị và A Phủ.
– Lên án mạnh mẽ chế độ cường quyền và thần quyền gian ác đã chèn ép, chà đạp, bóc lột không chỉ là sức lao động mà còn cả quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của họ.
– Thấu hiểu, nhìn nhận được những phẩm chất, vẻ đẹp tâm hồn đáng quý ngự trị trong những người nông dân bị đàn áp.

3. Kết bài:

­- Nêu cảm nhận chung.

II. Bài văn mẫu Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo của Vợ chồng A Phủ

Trong nền văn học hiện thực Việt Nam, ngoài những cái tên nổi tiếng như Nam Cao, Kim Lân, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố,… khi viết về đề tài người nông dân và trí thức cũ ở vùng đồng bằng phía bắc với những đắng cay, đau đớn tột cùng về số phận con người dưới chế thực dân nửa phong kiến. Thì Tô Hoài cũng là một trong những tác giả để lại nhiều dấu ấn với những tác phẩm phản ánh rất rõ đời sống của nhân dân miền núi phía Bắc, đặc biệt là người phụ nữ dưới sự áp bức chà đạp của cả phong kiến cường quyền và thần quyền. Trong đó Vợ chồng A Phủ là tác phẩm nổi tiếng nhất của Tô Hoài khi nói về đề tài này, ở đó không chỉ nêu ra được những giá trị hiện thực khi phản ánh bộ mặt thối nát của xã hội lúc bấy giờ, mà còn ẩn chứa những giá trị nhân đạo sâu sắc, thương cảm xót xa cho từng số phận bi kịch của con người dưới ách cường quyền.

Trước hết nói về giá trị hiện thực, ở truyện ngắn Vợ chồng A Phủ là bức tranh về cuộc sống bị áp bức, chà đạp tàn bạo của những người nông dân thấp cổ bé họng, giống như Mị và A Phủ. Ở họ hội tụ đầy đủ những yếu tố của một con người xứng đáng có được hạnh phúc, ví như bản thân Mị là một cô gái xinh đẹp, chăm chỉ, hiếu thuận, có tài thổi sáo, thổi lá, đồng thời cũng có một tình yêu đẹp. Còn A Phủ tuy là một chàng trai có số phận bất hạnh, nhưng anh lại là người có ý chí, chăm chỉ lao động, trở thành niềm mơ ước của nhiều cô gái ở Hồng Ngài. Ấy thế mà hai con người ấy một người chỉ vì món nợ truyền kiếp của cha, một người chỉ vì việc tranh chấp đánh nhau với nhà quan mà phải trở thành nô lệ, trở thành những công cụ làm việc biết nói, gần như vĩnh viễn chôn vùi cuộc đời tại nơi cửa quan, chịu đựng biết bao đắng cay tủi nhục.

Bi kịch của Mị xuất phát từ món nợ truyền kiếp của cha mẹ, cuối cùng cô phải chấp nhận làm con dâu gán nợ, để tận hiếu với cha, đau đớn đến độ muốn chọn cái chết bằng nắm lá ngón, Mị cũng không thể toại nguyện. Cuối cùng một cô gái đương phơi phới sức xuân, trở thành một người đàn bà lúc nào mặt cũng buồn rười rượi, quanh năm suốt tháng làm lụng, quên cả việc phải nói phải cười. Chai lì hết mọi xúc cảm và khao khát tự do, biến thành một con người lầm lũi như con rùa trong xó cửa, khổ đến mức độ “ở lâu trong cái khổ, Mị cũng quen khổ rồi. Bây giờ Mỵ tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa. Con ngựa chỉ biết ăn cỏ, biết đi làm mà thôi”, rồi thì cô còn tự ý thức được rằng “Con ngựa, con trâu làm có lúc, đêm còn được đứng gãi chân, nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này vùi vào việc cả đêm cả ngày”. Không chỉ chịu đày đọa về thể xác mà ngay cả đời sống tinh thần Mị cũng phải gánh chịu nhiều giày vò. Cô bị ép gả cho người mình không yêu là A Sử, chồng Mị luôn cấm đoán, đánh đập và đối xử với Mị một cách tàn nhẫn, cuộc sống của Mị bị vây trong một con buồng tối có duy nhất một ô cửa bé bằng bàn tay mà “lúc nào cũng thấy trăng trắng không biết là sương hay là nắng”. Đó là một cuộc đời cầm tù chung thân, Mị đã tuyệt vọng nghĩ rồi cô sẽ sống ở căn phòng tối tăm này cho đến chết thì thôi, chứ không còn một mối thoát nào khác. Sự chèn ép, đàn áp ấy đã khiến Mị trở nên trơ lì như gỗ đá, không còn một chút tha thiết gì về cuộc đời, làm tê liệt hết những sự phản kháng, tê liệt cả tuổi trẻ và tàn hoại một con người vốn xứng đáng nhận về hạnh phúc cho mình.

Bên cạnh Mị, A Phủ cũng là một nhân vật phải gánh chịu sự chà đạp, chèn ép đầy bất công và đáng căm hận từ bè lũ thống trị nhà thống lý Pá Tra. Chỉ vì một cuộc ẩu đả với A Sử mà cuối cùng A Phủ bị phạt vạ một số tiền mà không biết được rằng đến hết đời này của A Phủ, rồi đến đời con đời cháu của anh có thể trả xong hay không. Như vậy chỉ từ một chuyện nhỏ, A Phủ đã phải vĩnh viễn chôn chân tại nhà kẻ thống trị, làm lụng như trâu, như ngựa, sống cuộc đời của một nô lệ để trả món nợ bất công.

Một nhân vật nữa dù chỉ xuất hiện thoáng qua, thế nhưng ông cũng là một nạn nhân phải chịu sự áp bức của cường quyền ấy là cha của Mị. Một người nông dân nghèo, vay tiền nhà thống lý để cưới vợ, làm lụng quanh năm suốt tháng để trả nợ, năm nào cũng trả một nương ngô, ấy vậy mà đến khi Mị đã lớn, người vợ đã chết, món nợ ấy vẫn còn. Chẳng có món nợ nào lại dai dẳng đến thế, chỉ có một điều là kẻ cầm quyền đã lợi dụng quyền lực của mình để bắt ép người nông dân, những người thấp cổ bé họng phải trả những món nợ không tưởng, cuối cùng phải trả giá cả bằng hạnh phúc của chính con cái mình. Đó là sự bóc lột, chèn ép đến tột cùng mà bè lũ phong kiến miền núi đã áp đặt lên những người lao động nhỏ bé, không có quyền được lên tiếng, cốt để thu về những món lợi vô nhân đạo.

Giá trị hiện thực thứ hai trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ ấy chính là sự tố cáo, vạch trần bộ mặt tàn bạo, gian ác của bọn cường quyền phong kiến miền núi. Sự tàn bạo ấy thể hiện ở việc Mị bị bắt cướp về nhà thống lý cúng trình ma mà không được sự ưng thuận của cô, cho đến việc cuộc đời của Mị và những người phụ nữ trong ngôi nhà ấy quanh năm suốt tháng chỉ biết làm lụng, bị bóc lột đến tận cùng như trâu ngựa, thậm chí còn không bằng. Ấn tượng nhất là chi tiết Mị muốn đi chơi, ngay lúc đó A Sử trở về nó không nói không rằng đã túm tóc Mị rồi trói đứng Mị ở cái cột trong căn buồng tối, rồi bỏ đi chơi tiếp. Thật không dám nghĩ nếu như không phải vì A Sử bị thương, cần người đắp thuốc thì có lẽ Mị dã bị trói đến chết mà không ai hay biết, bởi lẽ trong ngôi nhà này đã từng có một người đàn bà phải chịu chết trói như vậy. Rồi ngay cả khi Mị tận tâm chăm sóc cho chồng, chỉ vì mệt quá nên thiếp đi, ấy thế mà A Sử đã thẳng chân đạp Mị ngã dúi dụi, có thể nói là độc ác và lạnh lùng đến vô cùng. Ở câu chuyện của nhân vật A Phủ sự tàn ác, bất nhân của bè lũ phong kiến miền núi lại càng được thể hiện rõ. Vụ việc ẩu đả giữa A Sử và A Phủ đã trở thành cái cớ, để chúng biến A Phủ thành một nô lệ trong nhàn quan, để có thể ra sức bóc lột. Một đám xử kiện, thế nhưng người ta chỉ thấy khói thuốc phiện ngập tràn, cùng với một loạt những lời định tội, tính tiền hệt những con buồn, cuối cùng khép A Phủ vào món nợ 100 bạc trắng, một số tiền mà không biết hết đời ở đợ của A Phủ đã trả hết hay chưa. Nhưng bi kịch chưa dừng lại ở đó, trong một lần chăn bò, A Phủ lỡ để hổ vồ mất một con, và phải chịu bị trói đứng giữa sân, trong trời đông giá rét, chịu đói, chịu lạnh, mà có khi đôi ba hôm nữa sẽ phải chịu chết, một cái chết đầy oan ức. Như vậy chúng đã coi sinh mạng của A Phủ còn chẳng bằng một con bò bị mất, thật độc ác và bất công đến tột cùng, đến một người vốn ẩn nhẫn và cam chịu như Mị cũng không thể chịu nổi mà căm hận, xót thương cho cuộc đời của A Phủ.

Về giá trị nhân đạo, Vợ chồng A Phủ trước tiên là hướng tới việc cảm thông, thương cảm cho số phận những người nông dân phải chịu đàn áp, bất công như Mị và A Phủ, thông qua đó tố cáo, lên án mạnh mẽ chế độ cường quyền và thần quyền gian ác đã chèn ép, chà đạp, bóc lột không chỉ là sức lao động mà còn cả quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của họ. Bên cạnh đó là sự thấu hiểu, nhìn nhận được những phẩm chất, vẻ đẹp tâm hồn đáng quý ngự trị trong những người nông dân bị đàn áp. Ở Mị là sự xinh đẹp, chăm chỉ làm lụng, hiếu thảo với cha, tài năng thổi sáo, thổi lá, cùng với những khát khao, ước vọng được sống một cuộc đời tự do, hạnh phúc tha thiết. Cùng với đó là tinh thần phản kháng mạnh mẽ, ẩn sâu tiềm tàng bên trong lớp vỏ chai lì, vô cảm, dù trong bất kỳ hoàn cảnh khó khăn, đau đớn đến nhường nào, nó vẫn chưa từng bị giết chết, hay bị lãng quên, chỉ là được Mị đem giấu đi thật kỹ, chờ ngày bùng nổ. Một vẻ đẹp tâm hồn đáng quý nữa ở nhân vật Mị ấy là tấm lòng thấu hiểu, đồng cảm cho những người cùng cảnh ngộ. Trong khi thấy A Phủ bị trói đứng đến chết, lòng Mị đã dấy lên sự phẫn nộ, căm tức, ý thức được sự bất công trong xã hội, cuối cùng dẫn đến hành động quyết liệt, dũng cảm là cắt dây cởi trói cho A Phủ, còn bản thân nàng nguyện hy sinh. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở đó thì giá trị nhân đạo của tác phẩm vẫn chưa đạt độ chín, chi tiết đắt giá nhất thể hiện tinh thần nhân đạo sâu sắc của tác phẩm ấy là cảnh Mị tự giải thoát cho chính mình, một người đàn bà đã sống cuộc đời lầm lũi suốt mấy năm trời ở nhà thống lý, đến chết cũng chẳng màng tới nữa, ấy vậy mà nay lại vùng lên bỏ trốn, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự chuyển biến ở tâm hồn của Mị, càng khẳng định sức sống tiềm tàng mạnh mẽ và niềm khao khát tự do đến cháy bỏng của cô, mà dùng bất cứ giá nào Mị cũng chịu đánh đổi để có được nó.

Ở A Phủ, ngoài những vẻ đẹp ngoại hình, sự chăm chỉ cần mẫn, dám xông pha, thì một trong những chi tiết ấn tượng nhất về nhân vật này ấy là giọt nước mắt đêm đông, lúc anh bị trói đứng. Có thể nói rằng cuộc đời A Phủ chưa từng khuất phục, dù là lúc bị phạt vạ, phải đi ở đợ, nhưng anh vẫn luôn nỗ lực hết mình. Chỉ đến khi bị trói đứng vì một con bò, A Phủ mới bắt đầu thấy tuyệt vọng, thấy đắng cay tột cùng, giọt nước mắt ấy là sự xót xa, nuối tiếc cho một cuộc đời còn đang dang dở phía trước, là sự đau đớn khi khao khát được sống, được tự do đang dần lụi tàn trước mắt. Điều đó chứng tỏ bản thân A Phủ có một niềm khao khát sự sống và tự do chẳng kém gì Mị, anh muốn sống, muốn được hạnh phúc, thế nhưng phong kiến cường quyền và thần quyền đã dùng sợi dây trói định cắt đứt tất cả. Khóc không phải là yếu đuối mà là sự ý thức thân phận đớn đau, cũng là sự căm hận, uất ức trước những bất công mà A Phủ phải gánh chịu. Một điểm nữa để thấy được vẻ đẹp của A Phủ ấy là cảnh khi Mị vừa cắt dây trói, người đàn ông chịu đói chịu rét suốt mấy ngày đã khuỵu xuống, thế nhưng ngay lập tức dùng hết sức bình sinh để vừa chạy vừa lăn xuống triền đồi tẩu thoát, không do dự. Đó là khao khát sống, khao khát tự do mãnh liệt là sức sống tiềm tàng mạnh mẽ, dù chỉ còn chút hơi sức cuối cùng cũng không bao giờ từ bỏ, quyết nắm lấy từng cơ hội mong manh để tự giải thoát cho bản thân mình của nhân vật.

Như vậy với những giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, Vợ chồng A Phủ xứng đáng là một trong những tác phẩm tiêu biểu của nền văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn sau cách mạng tháng tám. Nó không chỉ tập trung phản ánh, tố cáo bộ mặt thối nát, tàn ác của xã hội mà còn tập trung vào vẻ đẹp trong tâm hồn của con người, đồng thời khơi gợi, mở ra cho họ những lối thoát mới, cổ vũ người nông dân chịu áp bức mạnh mẽ đứng lên để tự giải phóng bản thân, đấu tranh đòi lại quyền bình đẳng, công bằng trong xã hội, manh nha cho phong trào làm cách mạng của đồng bào ở miền núi phía Bắc.

——————–HẾT———————-

Bài viết là những phân tích cơ bản về giá trị hiện thực và nhân đạo trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ, để tìm hiểu thêm về tác phẩm mời các em tham khảo thêm các bài viết Cảm nhận về truyện Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, Phân tích nhân vật Mị trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài, Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ, Trình bày bước ngoặt cuộc đời nhân vật Mị trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ.

Đăng bởi: Appbook.vn

Chuyên mục: Giải bài tập Lớp 12

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!