2 bài văn mẫu Phân tích hình tượng bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt hay nhất

2 bài văn mẫu Phân tích hình tượng bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt hay nhất

Bài văn mẫu 1__2 bài văn mẫu Phân tích hình tượng bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt hay nhất

   Vợ nhặt một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của nhà văn Kim Lân. Trong tác phẩm ta không chỉ nhớ về anh cu Tràng và chị vợ nhặt mà còn nhớ đến bà mẹ tảo tần, chịu nhiều vất vả. Bà cụ Tứ là hình ảnh bà mẹ nông dân Việt Nam trước 1945. Ở nhân vật này, Kim Lân không chú ý vào hành động mà đi sâu vào khai thác tâm trạng nhất vật, qua đó khẳng định tài năng miêu tả tâm lí nhân vật của ông.

    Diện mạo của bà cụ Tứ chỉ được tác giả phác họa bằng vài chi tiết “dáng đi lọng khọng, đôi mắt nghèn dử, vừa đi vừa húng hắng ho”. Nhưng chừng ấy cũng đã đủ để cho người đọc hình dung về một bà mẹ nhân dân lam lũ , vất vả đã bị cái đói cái nghèo đeo bám suốt cả cuộc đời.

2 bài văn mẫu Phân tích hình tượng bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt hay nhất

    Nhưng ngòi bút tập trung đi sâu miêu tả tâm lí bà cụ Tứ, đặc biệt là ở hai thời điểm: trong buổi tối cô vợ nhặt về nhà và buổi sáng hôm sau. Qua hai thời điểm đó đã cho thấy tài năng miêu tả tâm lí bậc thầy của Kim Lân.

    Khi bà cụ Tứ nhìn thấy cô con dâu, bà ngạc nhiên đến mức ngỡ ngàng vì chưa bao giờ bà thấy con trai bà mong ngóng bà về đến vậy. Sự ngạc nhiên tạo nên râm lí phấp phỏng khi bà theo anh cu Tràng vào nhà và thấy một người đàn bà lạ ngồi trong nhà. Đến lúc này sự ngạc nhiên của bà đã lên đến đỉnh điểm, bà tự hỏi: “Quái, sao lại có người đàn bà ngồi trong ý nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u”. Sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng đến mức bà không tin nổi vào mắt mình, phải dụi mắt để cho đỡ nhoèn.

    Sau khi được anh con trai giải thích, tâm trạng bà ngổn ngang, rối bời. Bằng trái tim yêu thương của người mẹ, lòng bà dâng lên tình yêu thương con sâu sắc. Bởi bà hiểu người ta chỉ lấy vợ lấy chồng khi cuộc sống yên ổn, nhưng con bà lại lấy vợ vào thời điểm cái đói diễn ra ác liệt nhất. Cùng với đó bà nghĩ tủi cho phận người mẹ nghèo khi không làm tròn trách nhiệm lo lắng cho hạnh phúc của con. Tất cả những nỗi lòng ấy được dồn trong cái cúi đầu nín lặng. Sau tình yêu thương bà chuyển sang xót xa, lo lắng “Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau vượt qua cơn đói khát này được không?”. Nạn đói đang hoành hành, những lo lắng của bà là hoàn toàn hợp lí. Từ lòng yêu thương, lo lắng cho con, tấm lòng nhân hậu của người mẹ còn chuyển sang người vợ nhặt. Dù Tràng không giới thiệu chi tiết, tỉ mỉ nhưng với kinh nghiệm sống của mình và hiểu đám cưới vội vã của người con dâu. Bà nhìn cô với ánh mắt đầy cảm thông, yêu thương: “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có được vợ”. Như vậy bà không chỉ là hiện thân của tình mẫu tử thiêng liêng mà còn là hiện thân của tấm lòng bao dung, vị tha, sẵn sàng giúp đỡ những người có số phận bất hạnh, éo le.

    Dù trong lòng ngập tràn nỗi xót xa, nhưng bà vẫn luôn nói nhưng điều vui vẻ, hạnh phúc với người con dâu mới: “ừ, thôi thì các con đã phải duyên, phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng”. Câu nói vừa xóa đi cái ngượng ngùng cho người con dâu vừa là sự chào đón đầy ấm áp, nhân từ bà dành cho thành viên mới của gia đình. Dù miệng nói ra những điều phấn khởi, vui vẻ nhưng ám ảnh về cái đói, cái chết vẫn là quá lớn. Bởi vậy, khi chìm vào thế giới của riêng mình bà vẫn không khỏi lo lắng, xót xa, và không nén nổi thành dòng nước mắt chảy dòng dòng.

    Trong buổi sáng hôm sau, Kim Lân tiếp tục đi sâu khai thác tâm lí bà cụ Tứ, đặc biệt nhấn mạnh vào niềm tin, khát vọng tương lai. Cùng với sự thay đổi của Tràng và cô vợ nhặt, bà cụ Tứ cũng có sự thay đổi rõ ràng. Tràng đã cảm nhận thấy người mẹ của mình có dáng vẻ khác hẳn mọi khi, không phải sự nhếch nhác, khổ sở mà thay vào đó là dáng điệu nhẹ nhõm, tươi tỉnh. Bà dậy sớm cùng con dâu quét dọn nhà cửa. Những hành động tuy nhỏ nhưng có ý nghĩa lớn lao, nó thể hiện sự vun đắp, chăm lo của người mẹ cho hạnh phúc của đôi vợ chồng trẻ.

    Để tạo niềm tin và hi vọng vào tương lai cho vợ chồng Tràng, trong bữa cơm ngày đói bà lão toàn nói những chuyện sung sướng sau này. Sự tính toán của bà về việc mua lấy đôi gà để ngoảnh đi ngoảnh lại đã có đàn gà, khiến cho đôi vợ chồng có niềm tin vào tương lai. Nhưng dù dùng những câu chuyện vui, lạc quan thì bà lão vẫn không thay đổi được hiện thực là nồi cháo kia chỉ đủ cho mỗi người ăn hai lưng là hết. Và để vượt qua cái đói, bữa cơm đón cô dâu mới có thêm cả nồi cháo cám. Bưng nồi cháo cám ra, phản ứng tâm lí của bà vô cùng đáng thương, bà lật đật, lễ mễ , khuấy khuấy cùng với giọng nói đầy phấn khởi, để giấu bớt đi phần khắc nghiệt của hiện thực là bát cháo cám nghẹn ứ ở cổ. Những hành động đó của bà thật cảm động và đáng trân trọng.

    Không phải ngẫu nhiên mà trong ba nhân vật, Kim Lân lại để một bà cụ gần đất xa trời nói về tương lai, nhưng điều tốt đẹp, sau đó còn ẩn chứa thông điệp: Dù thế nào cũng phải giữ lấy niềm tin và hi vọng. Đồng thời cũng là sự ngợi ca của tác giả trước sức sống khỏe khoắn, mãnh liệt của tâm hồn Việt. Người mẹ nghèo nhưng tính cách bao dung, nhân từ đã gieo mầm sự sống, hạnh phúc lứa đôi. Có thể coi bà cụ Tứ là điểm kết tinh của tác phẩm, thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc.

    Bằng nghệ thuật phân tích tâm lí nhân vật bậc thầy, Kim Lân đã lách sâu ngòi bút của mình để thấy được vẻ đẹp tâm hồn, tấm lòng bao dung nhân hậu của bà cụ Tứ với đôi vợ chồng trẻ. Bà cụ Tứ chính là hình ảnh đẹp đẽ nhất, đại diện tiêu biểu cho hàng triệu bà mẹ Việt Nam. Đồng thời qua nhân vật này cũng thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc của Kim Lân.

Bài văn mẫu 2__2 bài văn mẫu Phân tích hình tượng bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt hay nhất

   Bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân dù không phải là nhân vật chính, nhưng với sự xuất hiện của bà đã làm cho tác phẩm trở nên sâu sắc hơn. Không chỉ vậy còn thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc mà tác giả muốn gửi gắm.

    Chân dung bà cụ Tứ được tác giả miêu tả hết sức chân thật, xuất hiện lần đầu trong tác phẩm là dáng hình già nua, lọm khọm: “lọng khọng đi vào ngõ vừa đi vừa lẩm bẩm tính toán gì trong miệng”. Quả là một dáng hình điển hình của những bà mẹ Việt Nam, tảo tần, chịu thương, chịu khó, suốt một đời lam lũ vất vả. Dường như bà không có một phút ngơi nghỉ, trên đường về nhà cũng phải tính toán. Đồng thời trong dáng đi của bà còn có chút phấp phỏng, lo ấu bởi sự đón tiếp khác ngày thường của người con trai.

2 bài văn mẫu Phân tích hình tượng bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt hay nhất

    Khi nhìn thấy “người vợ nhặt” đứng ở đầu giường bà trải qua hàng loạt diễn biến tâm lí khác nhau. Ban đầy là ngạc nhiên, tiếp đến là băn khoăn, trong đầu bà đặt ra hàng loạt câu hỏi: “Người đàn bà nào lại đứng ở đầu giường thằng con mình thế kia? Không phải cái Đục mà. Ai thế nhỉ? Sao lại chào mình bằng U”. Bà nào có thể ngờ rằng khi cái đói, cái chết đang mấp mé ngoài cửa người con trai lại dám dẫn một nàng dâu về nhà. Lòng bà ngập đầy băn khoăn, lo lắng.

    Đến khi anh cu Tràng giới thiệu bà mới vỡ lẽ, mới hiểu ra, bà lặng lẽ cuối đầu , ai oán thương xót cho số phận mình và con trai: “Chao ôi người ta dựng vợ gả chồng cho con là trong lúc ăn nên làm nổi, con mình thì….”. Câu nói của bà có chút mặn chát đắng cay, con bà đến lúc cái đói rình rập thì mới có được vợ. Bà đau long bởi không thể lo chu toàn cho con. Đọc câu văn lên ta không khỏi bất giác run rẩy, đau đớn, xót xa, bởi việc trong đại lẽ ra nên làm mân cơm mới phải, nhưng ngặt nỗi nhà mình lại nghèo quá. Bà không chỉ thương con mình mà con thương con dâu: “Người ra có gặp bước khó khăn đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được….”. Rồi lại càng lo lắng hơn, liệu trong cơn hoạn nạn này liệu chúng có nuôi nổi nhau hay không.

    Nhưng sau những lo lắng đó, ngay lập tức bà lấy lại tinh thần, vẽ ra tương lai tốt đẹp cho hai đứa con. Lòng bà vẫn một mực hướng về tương lại “vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi nay ra ông trời cho khá … Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời?...”. Những lời nói rất từng trải, vừa thương, vừa lo của bà như một nguồn động lực tiếp thêm sức mạnh cho hai đứa con. Bà nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sướng về những dự định trong tương laic ho các con.

    Kim Lân đã dụng công tất cả tài năng của mình để miêu tả thật tinh tế và cảm động những cung bậc tình cảm, cảm xúc của bà cụ Tứ đối với con. Từ sự ngỡ ngàng, đến lo lắng “liệu chúng có nuôi nhau sống nổi qua thì đói không” đến niềm tin, hi vọng vào tương lai. Ông cũng thật tinh tế khi diễn tả lối nói, suy nghĩ đầy thuần hậu, chất phác của những bà mẹ nông dân Việt Nam trước tình cảnh lấy vợ của hai đứa con. Những câu văn như lời nói nghẹn ngào, đầy tủi cực, xót xa của bà mẹ nghèo dành cho những đứa con.

    Sáng hôm sau, sau bao ngày không còn động chân động tay vào việc nhà, bà cùng người con dâu dậy sớm dọn dẹp, tu vé nhà cửa, tíu tít với những dự định: ngăn đôi căn buồng cho đôi vợ chồng trẻ mua đôi gà… Nồi cháo cám mặn chat, nghẹn đắng ở cổ nhưng bà cụ vẫn có tỏ ra vui vẻ, xăm xắn giúp không khí gia đình thêm vui tưới. Bà cố giấu giọt nước mắt tủi cực của mình vào sâu đấy long “bà không dám để con dâu nhìn thấy bà khóc”. Bà cụ Tứ là người gần đất xa trời nhưng lại là nhân vật nói đến tương lai nhiều nhất trong tác phẩm, nó cho thấy tinh thần lạc quan, khỏe khoắn của người lao động. Dù nghèo khổ, dù vất vả nhưng trong họ luôn tràn đầy niềm tin và sự lạc quan vào cuộc sống.

    Dù chỉ là nhân vật phụ, xuất hiện gần cuối tác phẩm nhưng nhân vật bà cụ Tứ có vai trò quan trọng trong tác phẩm, thể hiện tấm long nhân đạo của Kim Lân. Bà cụ Tứ là hiện thân tiêu biểu cho bà mẹ nông dân Việt Nam tảo tần, chịu khó, hết long hi sinh vì con. Đồng thời quan nhân vật này cũng thể hiện nghệ thuật phân tích tâm lí xuất sắc của Kim Lân.

Các bài học khác

  • tuần 1

  • Tuần 15

  • Tuần 18

  • Tuần 20

  • Tuần 31

  • Tuần 32

  • Tuần 33

  • Tuần 34